Vietnam Fishing Passion

Đam Mê

cachepnokill - Tôi đam mê câu cá, và tôi yêu quê hương.

Việt Nam

Quê hương là chùm Khế Ngọt

Bạn Bè

Những người quanh tôi

Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

“TIẾNG LÓNG” SAIGON?

“TIẾNG LÓNG” SAIGON?

Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời "tiếng lóng" khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.
Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành tiếng lóng "SỨC MẤY" để thay vì nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố "Sức mấy mà buồn, thôi bỏ đi Tám ơi!".
Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Saigon thời chiến, quê hương chiến tranh buồn phiền ; "sức mấy" đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ôtô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi auto 9 nốt "tính tính tè tè, te tè ti té ti", làm cho đường phố càng náo loạn hơn.
Trước đó cũng từ bài ca Diễm Xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra tiếng lóng "XƯA RỒI DIỄM ƠI", mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó, mà người nghe không muốn nghe thêm nữa.
Thời các vũ trường mới du nhập vào Saigon như: Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức là người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng lóng "CAI GÀ", gọi cảnh sát là "MÃ TÀ", vì Police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là Matraque, đọc trại thành "mã tà".
Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như:
- "GÁC DANG" tức thuê người làm bảo vệ, tiếng Pháp là Gardien đọc trại ra thành gác-dang.
- Cũng như nói "DE CÁI ĐÍT" tức lùi xe Arriere.
- Tiền cho thêm người phục vụ tiếng Pháp: Pour-bois âm bồi gọi "tiền boa", sau này chế ra là "TIỀN BO".
Cũng thời Pháp thuộc, Saigon có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi sở bưu điện là “NHÀ DÂY THÉP”, mua tem dán bao thư gọi là "CON CÒ", còn nếu gọi "ÔNG CÒ" là để chỉ Cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi "THẦY CÒ" tức là các ông chữa Morasse các tòa báo do chữ Correcteur, nhưng nói "CÒ MỒI" là tay môi giới chạy việc, "ĂN TIỀN CÒ" thì cũng giống như "TIỀN BO", nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.
Thời kinh tế phát triển, đi xe auto gọi là đi "XẾ HỘP", đi xe ngựa gọi là đi "AUTO HÍ", đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là "XE ĐIẾC", đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là "ĐI CẤP", đi khiêu vũ gọi là "ĐI BUM", đi tán tỉnh chị em gọi là đi "CHIM GÁI", đi ngắm chị em trên phố gọi là "ĐI NGHỄ", gọi chỉ vàng là "KHOẺN", gọi quần là "QUỞN", gọi bộ quần áo mới là "ĐÒ DÍA hay VÍA". Ði chơi bài tứ sắc các bà gọi là "ĐI XÒE", đi đánh chắn gọi là "MÚA QUẠT", đi chơi bài mạt chược các ông gọi là "ĐI THOA", đi uống bia gọi là "ĐI NHẬU", đi hớt tóc gọi đi "HÚI CUA".
Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 - 1950 du nhập vào Saigon, đó là "ĐI ĐẦU DẦU", tức các chàng trai ăn diện "ĐI NGHỄ" với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng cóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là "HẾT SẨY", quê mùa chậm chạp gọi là "ÂM LỊCH", hách dịch tự cao gọi là "CHẢNH".
Tiền bạc gọi là "ĐỊA", có thời trong giới bụi đời thường kháo câu "KHỨA LÃO ĐA ĐỊA" có nghĩa là ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là "XÙ", "XÙ TÌNH" tức là cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là "BẮT ĐỊA", ăn cắp là "CHÔM CHỈA", tương tự như "NHÁM TAY" hay "CẦM NHẦM" những thứ không phải của mình.
Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Saigon gọi là làng "HIA MÃO", có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi "KÉP CHẦU", có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, hay bị tiêu chảy bất tử thì kép chầu thay thế vào ngay. "Kép chầu" phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.
Ðào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là "ĐÀO THƯƠNG" tỷ như “Sầu Nữ Út Bạch Lan”, kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là "KÉP ĐỘC" tỷ như Trường Xuân hay đóng vai tướng Mông Cổ. Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là rạp hát cải lương, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là "CAFÉ À LA ... GHI" tức uống café thiếu ghi sổ ...
Vào làng báo mà tiếng lóng người Saigon xưa gọi "NHẬT TRÌNH". Nếu thiếu tin, lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là "TIN KHO TIÊU", các loại tin vớ vẩn vài ba dòng từ quê ra tỉnh gọi là "TIN CHÓ CÁN XE", tin quan trọng chạy tít lớn gọi là "TIN VƠ-ĐÉT" Vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là "LUỘC BÀI", chắp nhiều thông số khác nguồn ra thành một bài gọi là "XÀO BÀI", truyện tình cảm dấm dớ gọi là "TIỂU THUYẾT 3 XU", các tạp chí bình dân chuyên xoi mói đời tư gọi là "BÁO LÁ CẢI". Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, lóng gọi là "TIN PHỊA", nhưng trong "tin phịa" còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, lóng gọi là "TIN BALLONS" tức là thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là "TIN CÁ THÁNG TƯ".
Có đến “hơn” bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Ðó là “KHUẤT NÚI”, "TỊCH", "HAI NĂM MƯƠI", "MẶC CHEMISE GỖ", "ĐI AUTO BƯƠN", "VỀ CHẦU DIÊM CHÚA", "ĐI BUÔN TRÁI CÂY" hay "HUI NHỊ TỲ", "NHỊ TỲ" thay cho nghĩa địa và "SỐ DZÁCH" thay cho số một ... đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.
Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung, nói chung là truyện Tàu thịnh hành, người Saigon đã chế ra nhiều tiếng lóng như: ai dài dòng gọi là "VÒNG VO TAM QUỐC", ai nói chuyện phi hiện thực gọi là "CHUYỆN TỀ THIÊN", tính nóng nảy gọi là "TRƯƠNG PHI". Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là "NHẠC BẤT QUẦN" tức ám chỉ người ngụy quân tử, đạo đức giả. Gọi là "ĐOÀN CHÍNH THUẦN" tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé ...
Saigon là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi thụ hưởng văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng "ăn theo" mà ra đời. Thời Mỹ đến thì một tiếng "OK SALEM", là các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là "SÉN" hay "CHÓ LỬA", dân chơi miệt vườn gọi là "CÔNG TỬ BẠC LIÊU" còn hiểu được, mà Saigon xuất hiện cụm từ "DÂN CHƠI CẦU 3 CẲNG" thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi "dân chơi cầu ba cẳng"?
Ðó cũng là lúc các tiếng lóng như "DÂN XÀ BÁT", "ANH CHỊ BỰ", "MAIN JOUER" tay chơi ra đời, chạy xe đua gọi là "ANH HÙNG XA LỘ", bị bắt gọi là "TÓ", vào tù gọi là "XỘ KHÁM". Bỏ học gọi là "CÚP CUA", bỏ sở làm đi chơi gọi là "THỢ LẶN", thi hỏng gọi là "BẢNG GÓT". Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt được, từ đó "ĐI ĂN CHÈ" trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.
Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như "CHÀ ĐỒ NHÔM" tức "CHÔM ĐỒ NHÀ", "CHAI HIA" tức chia hai ly bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với "CƯA ĐÔI". Lóng thời sự loại này có "TÔ BA LÂY ĐI XÔ XÍCH LE" tức "Tây ba lô đi xe xích lô". Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than "BUỒN NHƯ CHẤU CẮN", hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng "LU BU" để thất hứa, hay còn có người nhấn thêm "LU XU BU" nại lý do không rõ ràng để trốn việc.
Ðể tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành "QUẢ TÓ", gọi chiếc xe Honda là "CON RIM", gọi tờ giấy 100USD là "VÉ", đi ăn cơm bình dân gọi là "CƠM BỤI", xuống phố dạo chơi gọi là "ĐI BÁT PHỐ", gọi người lẩm cẩm là "DỞ HƠI" ...
Theo Lê Văn Sâm.

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

Hoa Ban Miền Tây Bắc "SÔNG ĐÀ DISCOVERY"

SÔNG ĐÀ DISCOVERY
Cơm nước xong, chúng tôi ngồi nghỉ ngơi. Lúc nãy ku Sanh đã thả 1 loạt lưới rồi, chúng tôi đợi đến tầm chiều để đi nhấc lưới, đêm nay ngủ nghỉ ở nơi này, phải kiếm đủ cá làm mấy món ngon ngon mới được! Kế hoạch của chúng tôi là sáng mai mới tiếp tục ngược dòng để đến thượng nguồn cơ mà, thời gian còn dài, cứ vui chơi đã.
Công việc cho buổi chiều được phân công. Ku Sanh & anh Mươn đi thả lưới bắt cá. Ku Hừ sẽ lấy...”nỏ” đi săn, nó bảo, sẽ chui rúc vào rừng Chuối Rừng để kiếm con “MÁY XÚC ĐẤT”. He he, lúc đầu tôi không hiểu đấy là con gì, mấy anh em cười ầm bảo “CON LỢN RỪNG”, à à...Lợn rừng hay về ủi rúc ăn mầm chuối mà. Đúng rồi, he he. Còn tôi, tôi ở lại rửa bát, xoong và ngồi câu cá ở loanh quanh đây.
Tôi chỉ có 2 bộ dây câu nhỏ, nên ngồi thả câu xong là nằm khểnh, hút thuốc ngắm trời ngắm mây. Gặp ngay phải cái loại này cắn, ôi giồi ôi, thịt thì ngon. Nhưng câu loại này bực mình lắm, vì chúng ham mồi, đã cắn là nuốt tuột lưỡi câu vào trong bụng ngay. Gỡ ra đến khổ, đây là cá Trạch Gai, ăn ngon tuyệt đỉnh đấy các anh chị ạ.
Quãng 4h chiều thì ku Hừ mò về, than thở “không thấy con nào, mấy con này hay ăn buổi sáng, để sáng mai em đi rình tiếp”. Ôi dào, thôi, chả phải vạ, Lợn Rừng ăn đâu có ngon, để tối đi rình kiếm con cầy Hương ngon hơn. Lát sau thì ku Sanh về, ô hô, cá bạt ngàn nhá. Đây đây, toàn cá ngon. Thế này thì tối nay ăn bét nhè chè đỗ đen rồi. Lũ cá này nướng thì nhất.
Úi giời, lại có cả cá Chiên nữa. Con này hơi bé, nhưng bé thì làm gỏi, ở rừng có 1 loại lá chuyên dùng làm gỏi cá ăn tuyệt vời lắm. Cá Chiên ở phía thượng nguồn này, quãng những năm 1996 trở về trước, dân bản bắt được những con nặng 50, 60kg là chuyện bình thường. Ngày ấy, nhà tôi là hộ kinh doanh ở chợ thị trấn, cá Chiên mua rẻ hơn thịt lợn, cả con to uỵch vứt lên bàn bán thịt của mấy tay Ba-toa, nhìn khiếp lắm.
Trời cũng xế chiều rồi, chúng tôi nghỉ 1 lát rồi bắt tay vào chuẩn bị thực phẩm tối. Hôm nay chúng tôi sẽ làm món cá nướng “PA PỈNH TỘP”, món này mới thực là đỉnh cao của cá suối nướng. Món này anh chị nào thích tìm hiểu, vui lòng xem hướng dẫn chi tiết của tôi tại đây: http://hoabanfood.com/pa-pinh-top-ca-suoi-nuong.html
Còn con cá Chiên kia thì làm gỏi. Thịt vàng như nghệ, chẹp chẹp, nghĩ đến mà tôi lại...rỏ rãi.
Tôi ngồi hí húi nướng món cá PA PỈNH TỘP, ôi, mùi cá chín thơm thơm, mùi khói củi cay nồng. Đằng sau là rừng già, trước mặt là dòng sông Đà cuồn cuộn chảy! Tây Bắc đẹp đến ngơ ngẩn.
Loay hoay mãi đến quãng 6h30 tối thì chúng tôi mới nấu nướng xong. Nhìn cũng tươm lắm, toàn cá là cá thôi! Cá nướng chúng tôi làm khá nhiều, nhưng vẫn còn thừa cá tươi vô khối, tôi bảo “để đấy, tối sấy làm cá khô”.
Thôi cơm thôi, đói lắm rồi. Thời tiết mới nhá nhem mà khá lạnh, mỗi người 1 chiếc đèn đeo đầu, vừa nhồm nhoàm nhai, chiêu ngụm rượu cho nó..ấm. Cá nướng – Gỏi cá Chiên và Canh Cá, he he, thế mà cũng gần hết thức ăn đấy.
Tôi có mang theo 1 gói trà mạn, nên cơm nước xong chúng tôi đun nước pha trà! Đốt lửa vừa sưởi ấm, vừa sấy cá khô! Cái món cá khô này đơn giản lắm, chỉ cần mổ sạch rồi đem sấy là xong, anh em ở đây đi suối dài ngày kiếm cá, thường phải làm như thế này để mang về. Chứ không có ôi, hỏng hết ngay.
Quãng 8h hơn thì thằng ku Hừ nó rủ đi bắn Cầy Hương và Sóc. Lúc chiều nay nó đi đã tăm tia được 1 khe nước có mấy cây sung chín, lũ cầy Hương & Sóc thích ăn quả này lắm. Cho thằng Sanh ở lán trông cá khô. Còn chúng tôi lấy thuyền đi ngược lên khoảng 1km để vào khe săn! Thú thực, đi thuyền trên sông Đà ban ngày đã hãi rồi, đi đêm thế này còn kinh hãi gấp bội. Xung quanh tối đen như mực, chỉ có mấy ánh đèn pin của chúng tôi loang loáng. Tôi ngồi bám chắc mạn thuyền, tôi sợ thực sự, nhỡ thuyền lật, hoặc lao vào đá thì...bỏ mạng là chắc chắn. Ban ngày còn nhìn thấy hướng mà bơi, đêm thế này thì...ôi thôi tôi chả dám kể nữa.
Đến nơi, đây là 1 khe nước. 3 anh em chúng tôi tiến sâu vào trong rừng già, cứ men theo dòng nước mà đi thôi. Vừa đi vừa soi đèn lên các ngọn cây to, nếu có Cầy Hương, hoặc Sóc trên ngọn, ánh đèn pin dọi vào mắt chúng là ta phát hiện ra ngay.
Đây đây, ku Hừ nó tinh mắt lắm, kinh nghiệm của 1 kẻ đi săn. Gã ta nhặt lên 1 quả rừng còn tươi, có vết cắn và ra dấu “IM LẶNG”, nó soi đèn pin sáng loáng lên ngọn cây ngay trên đầu. Ố ồ, vô số những đốm mắt đỏ trên ngọn cây, nhưng “Nỏ” chúng tôi mang theo làm sao bắn lên được vị trí cao như thế. Chúng tôi tắt đèn, ngồi im, rình dưới gốc cây. Đợi 1 lát xem lũ Cầy Hương kia xuống thấp hơn đã! Ngồi đợi mãi, muỗi cắn chí chết mà lũ cầy kia chả chịu xuống. Nản quá nên chúng tôi lại hò nhau đi tiếp, tìm cây khác. Ôi dào, chả có con nào nữa, thôi đi về lán thôi. Lắm muỗi & vắt quá.
Tôi mượn “nỏ”, bảo ku Hừ chụp cho 1 kiểu làm kỉ niệm. he he, dậy cách chụp ảnh mãi mà nó chụp lỗi như này đây.
Về đến lán, há há, cái thằng ku Sanh này, rượu say, lửa ấm. Nó nằm lăn còng queo như này mà gáy khò khò mặc kệ cho lũ muỗi đói vo ve như..nhạc rừng. Lay mãi nó mới thèm dậy, đúng là ăn được ngủ được là tiên, mà không thành tiên làm sao được khi bốn bề là rừng, là sông, là Tây Bắc trùng trùng điệp điệp. Phong cảnh nên thơ thế này, ông Tiên mà có thật, chắc ông cũng phải ghen tị với tụi tôi. he he
Đêm ở vùng thượng nguồn này sương rơi rất nặng hạt, cứ như mưa phùn vậy. Căng tạm bạt lên để che mưa. Mấy anh em lại hí húi ngồi đun nước pha chè uống. Thằng Sanh bảo tí bọn em đi thả lưới, sáng mai nhấc, anh ngủ trước đi, ối giồi ôi! Chúng mày để tao ở đây 1 mình á? Tao sợ ma lắm! he he, ấy là tôi nói đùa vậy thôi, chứ ở nơi rừng thiêng nước độc này, sợ nhất ban đêm là rắn độc, hoặc có con gì nó...nhảy ra vồ thì có mà chạy đằng giời. Cuối cùng thống nhất là Tôi & thằng Hừ ở lán, sáng sớm mai thằng Hừ cầm “Nỏ” đi săn, còn thằng Sanh & anh Mươn thì đi thả lưới, lúc nào về thì về.
1 lát sau thì thằng Hừ lăn ra ngủ, gáy khò khò. 2 anh em kia cũng đi thả lưới. Còn tôi 1 mình vẫn thức, thức để trông mấy con cá sấy khô, cái món này sấy mất công lắm, tôi cố sấy cho xong đêm nay! Mấy con cá khô ngon lành này, sẽ mang về HN làm quà cho lũ trẻ ở nhà. Đêm trong rừng già, tối và hiu quạnh đến phát hoảng, chỉ có dòng Sông Đà là vẫn cuồn cuộn chảy. Tôi lấy điện thoại ra mở nhạc nghe cho đỡ buồn, bài nhạc yêu thích được Eagles chơi giữa nơi cô quạnh này, he he, có lẽ là lần đầu tiên. Ngồi hút thuốc vặt, liên tục chất củi cho lửa cháy, đến hơn 2h đêm thì cá cũng khô khô rồi. Hôm nay tôi uống hơi nhiều chè nên tự nhiên giờ lại tỉnh như sáo, chui vào lán nằm mãi không ngủ được. Văng vẳng tiếng Hoẵng gọi bầy, kêu “tác tác” dọc 2 bên bờ sông! Ở đây, Nai & Hoẵng thường ra bờ sông uống nước, chúng thích nhất là tập chung lại các mỏm đá có vị mặn để liếm, anh em ở đây gọi những chỗ như thế là “MỎ”, ai mà đi săn, cũng thường rình mò ở những “Mỏ” như này. Thôi, nghĩ lan man cũng chán rồi, ngủ thôi, mai còn nhiều việc nữa. Ngủ....

 

 Trích bài từ nguồn Hoa Ban Đặc Sản Tây Bắc

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Hoa Ban Miền Tây Bắc



- PHẦN 1:VƯỢT THÁC-
 
Sông Đà – Đà Giang. Hay còn gọi theo tiếng Thái ở mạn thượng nguồn là “Nậm Te”, tức suối ở xứ Tè! Nghe theo tiếng phổ thông thì có vẻ buồn cười, nhưng thực tế, đồng bào Thái gọi theo tên địa phương đầu tiên mà dòng sông Đà chảy vào đất Việt: Huyện Mường Tè – tỉnh Lai Châu.

Tôi sinh ra và tuổi thơ thấm đẫm hơi thở của núi rừng, của sông suối Tây Bắc ở thị trấn cực Tây Bắc này. Rồi mai này, về thủ đô sinh sống, nhưng trong tâm trí & hoài niệm của tôi, những cánh rừng, những con suối, và cả những đồng bào dân tộc nơi đây được tôi coi là “Quê Hương” của mình! Đến bây giờ, công việc làm ăn tôi thường lui lại vùng thượng nguồn Sông Đà này! Được anh em dân bản dẫn đi chơi Sông Đà, bắt cá, nghịch ngợm đủ trò ở rừng, ở suối! Nhưng trong lòng vẫn khát khao được 1 lần đi tìm đầu nguồn, nơi những dòng nước đầu tiên của Sông Đà chảy vào Đại Việt. Mang chuyện này kể với các anh em dân bản, mọi người cười ầm và bảo “quá đơn giản, đi ngay thôi”.

Nói thì vậy, chứ đâu phải tôi đã sẵn sàng để đi ngay được, còn nhớ những ngày đầu tiên cách đây gần 3 năm, tôi đã xanh cả mặt, khi lần đầu tiên ngồi trên thuyền độc mộc trên dòng sông Đà! Dù lúc ấy là tháng 3, nước xanh trong, và dòng sông Đà hiền hòa hơn bao giờ hết. Nghĩ lại, thật xấu hổ & buồn cười, con người ta, chuyện gì lần đầu mà chẳng đầy bỡ ngỡ phải không các anh chị? (Nhất là tình đầu, ôi giồi ôi, bồi hồi khôn tả)! He he, ấy là cách đây 3 năm thôi, còn sau đó, tôi đi thường xuyên, vượt thác có, lao thuyền vào vực sâu có, nên giờ đi, chỉ thấy thích, chứ chả mấy khi sợ nữa.

Sắp xếp mãi, rồi đến tháng 11/2013, tôi đi dự đám cưới đứa cháu gái ở thị trấn Mường Tè. Cách đó 1 tháng, tôi đã gọi điện cho mấy cậu em ở bản, dặn rằng “anh sắp lên, mấy đứa sắp xếp vài ngày để đi sông Đà”, đáp giả đơn giản và chắc chắn  “anh cứ lên đi”. Vậy là xong, tháng 11 đến rồi, tôi đi đây, tôi đi cho thỏa nỗi nhớ Tây Bắc dấu yêu đây.

Từ HN, mất 2 chuyến xe khách, chạy liên tục hơn 24H đồng hồ để nuốt trọn 700km, tôi mới đến thị trấn Mường Tè! Dự đám cưới xong, tôi lấy xe máy của đứa cháu, đi tiếp 50km ngược dòng sông Đà, lên đến bản! Ây dà, cậu em tên Sanh đã chuẩn bị cơm nước đầy đủ để thết đãi rồi, thịnh soạn lắm. Cứ vào mâm đã, cơm tối xong rồi bàn chuyện ngày mai sau. Có thực mới vực được đạo, phỏng?
Cơm nước xong, cậu em Sanh nó gọi thêm mấy anh em nhà quanh bản nữa sang uống nước. Rồi bàn chuyện đi ngược thượng nguồn Sông Đà, tôi bảo là đi luôn ngày mai cho sớm! Nghe vậy, 2 cậu bạn của Sanh sẽ đi cùng, he he, vậy là đoàn có 4 người, vừa đủ cho 1 chiếc thuyền ván gỗ. Bố cậu Sanh biết mai chúng tôi đi, liền vào lục tủ mang ra mấy cái lưỡi câu to tướng, buộc sẵn dây câu và dặn “mang đi để bắt cá to”, úi giời, ông cụ không biết rằng trong balo của tôi đã có sẵn 1 vốc lưỡi câu to bự chảng mà tôi đã vòng lên tận chợ Giời – Phố Huế để mua từ trước khi đi. Nhưng tôi biết, ông cụ quý lắm mới đưa cho tôi, chứ ở nhà, thằng ku Sanh đừng mơ mà động vào mấy cái lưỡi câu này. Tôi nhận & xin ngay.
Sáng hôm sau, cơm nước & chuẩn bị đồ đạc xong! Chúng tôi vác đồ ra bờ sông Đà, xuồng đã để sẵn ở đây. Đồ đạc mang đi cố gắng gọn nhẹ hết sức, vì chuyến này chúng tôi đi có thể vài ngày, nước to, thác lớn! Mọi bất trắc, hiểm nguy đang chờ ở phía trước! Đồ dùng chúng tôi mang theo chỉ bao gồm 1 miếng  bạt nilon lớn, lưới bắt cá, lưỡi câu, 2 cái xoong, khoảng 7kg gạo, 1 ít muối, vài con dao nhọn....! Và 10L dầu Diesel để chạy máy xuồng, còn thực phẩm khác chả mang gì, đi suối, đi rừng cùng dân bản xứ thì ngại gì không kiếm ra thức ăn, nhất là sông Đà, cá tuyền cá ngon. Mà cùng lắm, không kiếm được thức ăn thì ăn cơm với muối & rau rừng, vài ngày chắc không chết được đâu. He he, à, còn tiền, tất nhiên là không mang theo rồi, tiền mang đi để làm gì??? Nơi mà chúng tôi sẽ đến, TIỀN CHỈ ĐỂ NGẮM mà thôi!
Kiểm tra đồ đạc lại lần cuối, những thứ thiết yếu đã được bỏ lên thuyền. Đi thôi, đoàn chúng tôi có 4 người, nhưng xuất phát ở bến chỉ có 3. Còn 1 anh chàng nữa, nhà ở 1 bản bên kia bờ sông, cách đây khoảng 1km, chúng tôi lên đấy rồi đón sau.
Đúng như đã hẹn, 8h sáng, anh chàng này đã đứng đợi sẵn ở bờ sông. Gã này người dân tộc Hà Nhì, thấy Sanh kể, “thằng này chui rừng, kiếm thịt thú rừng siêu hạng lắm, có nó đi theo thì yên tâm hơn nhiều”. :) Tốt quá, bạn đồng hành mà như này thì còn sợ gì nữa, à mà có, tôi chỉ sợ mấy ngày đi ngược sông Đà, sóng điện thoại không có. Vợ tôi gọi mà không liên lạc được, ắt hẳn lo lắng lắm lắm.
Nào, lên đường. Thuyền độc mộc vỏ gỗ nặng trình chịch, chở thêm 4 người trong nhóm chúng tôi và đồ đạc, nước đã mấp mé mạn thuyền rồi. Khoảng vài km ban đầu, ít thác ghềnh, nước lặng và cảnh đẹp. Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện, đủ thứ trên đời, từ chuyện con cá to nhất bắt được là nặng bao nhiêu, rồi rừng mùa này thì kiếm cái gì ăn được nhỉ?
Đi được 1 lát thì chúng tôi đến khu vực này, rất đẹp. Những vách đá hình thù nom rất lạ mắt, ắt hẳn chúng được dòng sông Đà ôm ấp, gầm gào và vuốt ve hàng nghìn năm nên mới nhẵn nhụi và mòn đến nhường này. Đang đi thì có tiếng gọi, hóa ra là ở đây có 1 nhóm mấy anh em cùng ở bản, lên đây câu cá từ đêm hôm qua, đang hết dầu diesel để về. Chúng tôi dừng lại, chỉ dám chia cho hơn nửa lít dầu, đủ để mấy anh chàng kia xuôi dòng về bản. Chả phải tiếc gì đâu, nhưng chúng tôi còn 1 chặng đường dài phía trước, và ắt hẳn là rất...tốn dầu.
Càng đi ngược dòng, sông Đà càng hung dữ, nhiều thác ghềnh, và nước chảy xiết hơn. Trở ngại đầu tiên chúng tôi gặp phải là thác này, thuyền không thể vượt được. Nhìn dòng nước chảy xiết đến chóng mặt, tôi cũng hơi hoang mang, không biết đi lên trên nữa thì sẽ như thế nào?!
Chúng tôi phải xuống, dỡ bỏ bớt đồ đạc rồi kéo thuyền vượt thác. Tôi được phân công việc nhẹ nhàng nhất, là vác đồ đạc lên bờ, rồi...đứng đợi. 3 anh em hò nhau kéo thuyền vượt thác! Nhìn thì đơn giản thế thôi, nhưng thực tế thì rất khó vì nước chảy xiết, lại nhiều đá ngầm, kéo không cẩn thận, thuyền lật, hoặc lao vào chân thì chỉ có...què.
Loay hoay 1 lát thì cũng kéo được thuyền qua thác, lại chất đồ đạc lên. Nổ máy và đi tiếp thôi, nhưng đúng thật, bây giờ là tháng 11, sông Đà đã qua mùa lũ rồi nhưng vẫn hung dữ, càng vào sâu thượng nguồn, thác càng nhiều. Còn rất nhiều những thác như thế này, và lần nào cũng phải xuống kéo thuyền!
Giờ cũng đã đi được hơn 2 giờ đồng hồ rồi, có lẽ trời lạnh, nước lạnh, mấy anh em đã cảm thấy đói. Dự tính điểm dựng trại & nghỉ của chúng tôi còn khoảng 30 phút nữa mới đến. Tôi ngồi giữa, chỉ thỉnh thoảng mới dám lôi máy ảnh ra chụp mấy cảnh đẹp đẹp, rồi lại phải bỏ vào túi nilon buộc chặt lại, nhỡ ngã xuống nước cũng không hỏng máy. Thật tiếc vì tôi không có máy ảnh chống nước, chuyến sau, nhất định tôi sẽ mua 1 chiếc.
Thuyền đang lướt vèo vèo thì, khực khực...chết máy. Ôi thôi, ku  Sanh gào lên “ối, tí rơi bình xăng”. Ôi giời ơi, hóa ra ngược dòng nhiều, máy chạy nóng & rung quá. Mấy con ốc gắn bình xăng với khung máy bị bung ra, tuột mất. Bình xăng tí thì nhảy..xuống nước. Bị mất kha khá xăng! Kìm & cờ lê thì có mang theo, nhưng đào đâu ra ốc thay thế bây giờ, mấy anh em hơi lo, mất 1 lúc thì ku Sanh nó mới buộc được bình xăng lại bằng dây...chun vỏ săm xe máy cũ. :)) Hixx, đi như này cũng hơi hãi, nhỡ tí nữa bình xăng bị rơi mà không biết thì chỉ có nước...chèo tay về bản. Nhá...
Đến địa điểm mấy anh em đã chọn từ trước để nghỉ nấu cơm trưa ăn. Tôi và ku Hừ (anh chàng người Hà Nhì mà chui nhủi trong rừng giỏi ấy) ở lại để nấu cơm, dựng lán. Còn Sanh & anh Mươn đi thả lưới, kiếm ít cá làm bữa trưa.
Đợi mãi, cơm đã chín từ lâu mới thấy ku Sanh về. Cá kiếm được có mấy con, nói chung đủ dùng cho bữa trưa. Mấy anh em ai cũng đói lắm rồi, vặt bừa nắm lá cây rừng, ném vào nồi nấu chung với mớ cá vừa kiếm được. Ăn thôi
Bữa trưa của chúng tôi chỉ có 1 nồi cơm, nấu bằng thứ gạo Đỏ của người Hà Nhì, và 1 nồi cá nấu với rau rừng. Và khốn khổ 1 điều, thằng ku Hừ kia nó mang nhầm gạo, nhẽ ra phải mang gạo Tẻ thì nó lại xúc nhầm Gạo Nếp (cả 2 thứ này đều có màu đỏ như nhau mới chết dở chứ). Ôi dào, mấy bữa tới ăn cơm nếp, có hơi ngán tí thôi, nhưng được cái chắc bụng. Chả sao cả, đói phải chén tuốt, ăn gì mà chả thấy ngon. He he, cơ mà bữa trưa nay, gạo nếp nấu như gạo tẻ, nhiều nước quá thành ra như...cháo. Hơi khó nuốt 1 tẹo thôi.
Mời các anh chị cùng ăn trưa với chúng tôi. Cơm bờ cơm bụi, thiếu thốn mọi bề, nhưng lại thấy ngon miệng lắm. Ăn xong, chúng tôi bàn với nhau, chiều đi thả lưới bắt cá đã, tối nay ngủ ở đây. Ngày mai mới tiếp tục ngược dòng Sông Đà để đến nơi tôi mong ước: BIÊN GIỚI VIỆT & TRUNG, nơi dòng sông Đà được gọi tên.
 
Cachepnokill trích bài nguồn HOA BAN

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt

Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt

Đóng góp: Quê hương - Lời thơ: Đỗ Trung Quân


VIDEO


Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

ĐK:
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá ngiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một Mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người